Các bước nâng cao năng lực hoạt động thẩm định giá ở Việt Nam?
Căn cứ phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động thẩm định giá và quản lý nhà nước về thẩm định giá của Việt Nam thời gian qua và nhằm nâng cao năng lực hoạt động thẩm định giá của Việt Nam giai đoạn 2013 – 2020 theo quan điểm định hướng và các mục tiêu được đặt ra, Đề án đã phân tích cụ thể 8 nhóm nội dung và nêu ra các giải pháp tương ứng.
Thứ nhất: tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về thẩm định giá một cách đồng bộ. Theo đó, tiếp tục nghiên cứu và ban hành theo thẩm quyền các Thông tư hướng dẫn, quy định cụ thể mới, sửa đổi và hoàn thiện các văn bản pháp quy hiện hành để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực thẩm định giá phù hợp với thông lệ quốc tế và tình hình thực tế Việt Nam. Ngay trong Quý I/2014, Bộ Tài chính đã ban hành 03 Thông tư liên quan là Thông tư số 38/2014/TT-BTC ngày 28/3/2014 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 89/2013/NĐ-CP về thẩm định giá; Thông tư số 31/2014/TT-BTC ngày 07/3/2014 hướng dẫn về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá và thẩm định giá; và Thông tư số 06/2014/TT-BTC ngày 07/01/2014 ban hành tiêu chuẩn thẩm định giásố 13 (về tài sản vô hình).
Thứ hai: nâng cao năng lực cho cán bộ, công chức quản lý nhà nước về giá và thẩm định giá đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong lĩnh vực giá và thẩm định giá; đồng thời thực hiện chức năng thẩm định giá đối với các loại tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về giá. Triển khai thông qua tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ về thẩm định giá; cử cán bộ đi học tập, đào tạo bậc đại học, trên đại học trong và ngoài nước theo các chương trình học bổng của Nhà nước và nước ngoài tài trợ; tổ chức đoàn khảo sát, học tập kinh nghiệm nước ngoài về quản lý giá và thẩm định giá.
Thứ ba: phát triển đội ngũ thẩm định viên về giá và doanh nghiệp thẩm định giá. Để hoạt động thẩm định giá phát triển đáp ứng yêu cầu đòi hỏi khách quan của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới và phù hợp với hội nhập quốc tế; Đề án xây dựng mục tiêu phát triển nguồn nhân lực từng thời kỳ. Trong đó, giai đoạn 2013-2015: tập trung phát triển đội ngũ thẩm định viên về giá và xác định giá trị doanh nghiệp cả về số lượng lẫn chất lượng. Giai đoạn 2015-2020: dự báo đây là giai đoạn hoạt động thẩm định giá cần đi vào chiều sâu, chất lượng và hiệu quả hơn; do đó thay vì hình thành nhiều doanh nghiệp thẩm định giá nhỏ, với số lượng thẩm định viên hành nghề tối thiểu, các doanh nghiệp thẩm định giá có xu hướng tiến tới quy mô lớn với đội ngũ nhân lực dồi dào hơn.
Thứ tư: chuẩn hóa bốn bộ tài liệu đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thẩm định giá tương ứng với các khóa đào tạo, bồi dưỡng theo quy định. Cụ thể: Biên soạn tài liệu phục vụ bồi dưỡng kiến thức để cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên ngành thẩm định giá (một trong các điều kiện dự thi cấp Thẻ thẩm định viên về giá); tài liệu bồi dưỡng kiến thức chuyên môn về thẩm định giá hàng năm cho thẩm định viên về giá hành nghề; tài liệu bồi dưỡng, nâng cao năng lực quản lý, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho các cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về giá và thẩm định giá và các đối tượng cán bộ, công chức của các cơ quan, đơn vị khác khi có nhu cầu; tài liệu cập nhật kiến thức cho các cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về thẩm định giá và các đối tượng khác có nhu cầu.
Thứ năm: nâng cao vai trò của Hội Thẩm định giá Việt Nam. Hội thẩm định giá Việt Nam theo chức năng, nhiệm vụ sẽ chủ động triển khai thực hiện hoặc phối hợp với Bộ Tài chính thực hiện các nội dung nhằm nâng cao vai trò và tầm ảnh hưởng của Hội trong hoạt động quản lý nhà nước về thẩm định giá cũng như hỗ trợ các hội viên.
Thứ sáu: xây dựng Trung tâm Dữ liệu quốc gia, bồi dưỡng nghiệp vụ và dịch vụ về giá và thẩm định giá. Cơ sở dữ liệu và các thông tin liên quan đến tài sản thẩm định giá không chỉ là một trong những đầu vào tiên quyết của quá trình thẩm định giá mà còn góp phần quyết định chất lượng, hiệu quả của cuộc thẩm định giá. Hiện nay, việc thiếu cơ sở dữ liệu thẩm định giá và hệ thống quản lý các dữ liệu này đã gây khó khăn không nhỏ cho hoạt động thẩm định giá của doanh nghiệp và công tác giám sát kết quả thẩm định giá của Nhà nước, cũng như niềm tin của khách hàng. Do đó, cần thiết phải xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu trong thẩm định giá và có sự hỗ trợ của khoa học- công nghệ, có nguồn nhân lực để làm chủ công nghệ và hệ thống cơ sở dữ liệu đó, sử dụng hiệu quả và tác động tích cực đến sự phát triển của ngành.
Thứ bảy: tăng cường kiểm tra, kiểm soát chất lượng hoạt động thẩm định giá và việc chấp hành các quy định của Nhà nước về thẩm định giá thông qua việc hướng dẫn xây dựng và ban hành quy trình kiểm soát chất lượng hoạt động thẩm định giá tại các doanh nghiệp thẩm định giá; tổ chức triển khai công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động thẩm định giá theo quy định; thanh tra, kiểm tra hoạt động đào tạo, bồi dưỡng về thẩm định giá đối với các cơ sở đào tạo có đủ điều kiện đào tạo chuyên ngành thẩm định giá theo quy định của Bộ Tài chính.
Thứ tám: tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thẩm định giá thông qua việc duy trì, phát triển các mối quan hệ hợp tác sẵn có và mang tính truyền thống với các tổ chức thẩm định giá quốc tế mà Việt Nam đã là thành viên; đồng thời mở rộng mối quan hệ hợp tác với một số tổ chức thẩm định giá có ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực thẩm định giá, tiến tới công nhận lẫn nhau trong hoạt động thẩm định giá. Bên cạnh đó, hợp tác với các chuyên gia và giảng viên nước ngoài về chuyên ngành thẩm định giá trong công tác giảng dạy, tổ chức và tham gia các hội nghị, hội thảo trong khu vực và quốc tế về thẩm định giá.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét