Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2015

Doanh nghiệp thẩm định giá phải trích lập dự phòng rủi ro

Thẩm định giá là ngành nghề rất quan trọng đối với các hoạt động đầu tư, kinh doanh trong xã hội hiện nay.
Những quy định mới về quản lý hành nghề thẩm định giá đối với doanh nghiệp thẩm định giá, cơ sở dữ liệu về thẩm định giá, hoạt động thẩm định giá của cơ quan nhà nước và chi phí phục vụ hoạt động thẩm định giá vừa được Bộ Tài chính ban hành.
thẩm định giá
Nội dung trên được quy định tại Thông tư số 38/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 89/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Giá về thẩm định giá.
Về đăng ký hành nghề thẩm định giá đối với thẩm định viên về giá. Thông tư quy định, thẩm định viên về giá không được thực hiện đăng ký hành nghề thẩm định giá trong cùng một thời gian cho từ hai doanh nghiệp thẩm định giá trở lên.
Thẩm định viên về giá phải chịu trách nhiệm về các thông tin đã kê khai trong hồ sơ đăng ký hành nghề thẩm định giá. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người được uỷ quyền bằng văn bản có trách nhiệm xem xét, rà soát hồ sơ bảo đảm các thẩm định viên về giá đủ điều kiện đăng ký hành nghề tại tổ chức mình và ký xác nhận trên Giấy đăng ký hành nghề thẩm định giá tại doanh nghiệp của từng thẩm định viên về giá. Không xác nhận đối với trường hợp thẩm định viên về giá không được hành nghề tại doanh nghiệp thẩm định giá theo quy định của pháp luật về thẩm định giá.
Trích lập tối thiểu 1% tổng doanh thu
Thông tư quy định rõ: doanh nghiệp thẩm định giá phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp thẩm định giá hoặc trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp để tạo nguồn chi trả bồi thường thiệt hại (nếu có) do doanh nghiệp thẩm định giá gây ra cho người sử dụng kết quả thẩm định giá. Người sử dụng kết quả thẩm định giá là khách hàng thẩm định giá hoặc là bên thứ ba có liên quan do khách hàng thẩm định giá xác định và được doanh nghiệp thẩm định giá thống nhất ghi trong hợp đồng thẩm định giá.
Doanh nghiệp thẩm định giá được mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp thẩm định giá của tổ chức kinh doanh bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam theo quy định của pháp luật.
Trường hợp tổ chức kinh doanh bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài hoạt động ở Việt Nam chưa cung cấp dịch vụ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp thẩm định giá, doanh nghiệp thẩm định giá có thể được mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp thẩm định giá của doanh nghiệp bảo hiểm ở nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Trường hợp doanh nghiệp thẩm định giá không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp thẩm định giá thì phải trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp với mức trích tối thiểu hàng năm là 1% trên doanh thu dịch vụ thẩm định giá (doanh thu không có thuế giá trị gia tăng), được hạch toán như trường hợp trích lập dự phòng phải trả và được tính vào chi phí kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Xây dựng cơ sở dữ liệu về thẩm định giá
Theo quy định tại Thông tư, cơ quan quản lý nhà nước về giá ở trung ương (bao gồm Bộ Tài chính và Bộ quản lý ngành, lĩnh vực) và ở địa phương (Sở Tài chính) có trách nhiệm xây dựng, khai thác và vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu vềthẩm định giá phục vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngành, địa phương và thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình; cung cấp thông tin (nếu có) cho các tổ chức, cá nhân khác khi có nhu cầu theo quy định của pháp luật;
Hàng năm, lập dự toán ngân sách phục vụ cho việc xây dựng, khai thác và vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu về thẩm định giá trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Kinh phí được bố trí trong dự toán ngân sách hàng năm của đơn vị theo quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp thẩm định giá có trách nhiệm xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về thẩm định giá phục vụ hoạt động nghiệp vụ của doanh nghiệp.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15-5-2014, bãi bỏ Thông tư số 17/2006/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định số 101/2005/NĐ-CP của Chính phủ về thẩm định giá.

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2015

Thẩm định giá một công ty mới

Hoạt động thẩm định giá một công ty hay một doanh nghiệp mới là việc làm rất cần thiết đối với cả chủ sở hữu và nhà đầu tư.
Khi bạn may mắn tìm được một nhà đầu tư sẵn sàng tài trợ cho công ty của bạn, chắc chắn họ sẽ muốn hỏi bạn: “Tôi sẽ phải trả bao nhiêu để được một phần của cái bánh này – và phần của tôi sẽ lớn chừng nào?”
Thẩm định giá một công ty mới thành lập là một việc tương đối khó khăn và chủ quan, nhưng đó là việc mà các chủ sở hữu phải làm, đặc biệt là khi vốn đầu tư trở nên quá khan hiếm. Thẩm định giá quá thấp, công ty của bạn sẽ mất giá trị; đẩy giá lên quá cao, và các nhà đầu tư sẽ nghi ngờ khả năng năm bắt nền kinh tế tiềm ẩn của bạn.
thẩm định giá
Sau đây là ba phương pháp, một số được chia thành các phần để giúp bạn đặt được thẩm định giá cho công ty của mình. Bạn có thể kết hợp tất cả chúng lại với nhau. Để làm ấn tượng nhà đầu tư, bạn nói càng nhiều các theo ngôn ngữ của họ càng tốt.
Phương pháp thứ 1: Phương pháp tài sản
Theo tất cả các cách 
thẩm định giá, phương pháp tài sản đặt giá trị bằng tiền lên tất cả các tài sản trên bản cân đối kế toán của công ty và công chúng lại là phương pháp vững chắc, chính xác nhất.
Bắt đầu với các tài sản hữu hình, bao gồm máy móc, nội thất văn phòng, máy tính, đồ đạc, mẫu vật (và chi phí để phát triển chúng). Những công ty mới thường sẽ có ít tài sản hữu hình.
Sau đó đến với tài sản vô hình. Mục này bao gồm bằng sáng chế, thương hiệu và cả giấy tờ thành lập công ty (vì tên của công ty được bảo vệ).  Cách này có vẻ tỉ mỉ, nhưng giá trị là thực.
Tiếp theo là tất cả các nhân viên. Giá trị của hầu hết các công ty nằm ở con người. Vào cuối những năm 90, rất ít khi thấy giá trị định giá tăng 1triệu USD cho mỗi lập trình viên, kỹ sư, thiết kế viên toàn thời gian. Đừng quên bao gồm cả giá trị của vốn chủ sở hữu, theo như trong lý thuyết sẽ là lương phải trả cho các nhà sáng lập và quản trị.
Cũng đừng quên mối quan hệ khách hàng. Mỗi hợp đồng với khách hàng đều đáng giá, cho dù nó vẫn đang trong giai đoạn đàm phán. Ước lượng giá trị cho các nỗ lực của khách hàng, giống như các nhà quản lý làm để định lượng dự báo về nhóm của họ.
Phương pháp thứ 2: Phương pháp so sánh
Một cách khác để 
thẩm định giá khả năng sinh lời tiềm năng của công ty là dựa theo cầu lý thuyết của nó trên thị trường.
Bắt đầu bằng việc đánh giá khối lượng và tốc độ tăng trưởng của thị trường mục tiêu. Thị trường càng lớn và tốc độ tăng trưởng dự đoán càng cao thì giá trị ban đầu của công ty bạn càng lớn. Với một công ty trẻ, giá trị chưa cao đang tìm kiếm cơ hội lôi kéo các nhà đầu tư lớn, thị trường mục tiêu nên có khoảng ít nhất 500 triệu đô la doanh số tiềm năng; nếu doanh nghiệp của bạn cần rất nhiều tàn sản, nhà máy và thiết bị, thị trường mục tiêu nên lớn ít nhất 1 tỉ đô.
Tiếp theo, đánh giá sự cạnh tranh và xác định rào cản gia nhập. Cạnh tranh càng gay gắt thì giá trị công ty bạn càng thấp. Mặt khác, bạn càng tạo rào cản giữa công ty bạn và các công ty đang thách thức cạnh tranh (dựa trên các yếu tố như vị trí, hợp đồng với khách hàng chủ chốt, lợi thế người đi trước…), giá trị của bạn càng lớn. Những giá trị vô hình này gọi là “goodwill” – Lượng phụ trội mà một người sẵn sàng bỏ ra cho công ty bạn ngoài giá trị các tài sản trên bảng cân đối. Goodwill có thể tăng giá trị định giá lên vài trăm tỉ đồng.
Thứ ba, nhìn vào các công ty tương tự mà đã thành công trong việc thu hút đầu tư – một bài học khá giống như đánh giá giá trị của ngôi nhà của bạn bằng giá trị những căn nhà tương tự đã được bán gần đó. Việc tìm kiếm thông tin kỹ càng trên Google có thể cho bạn khá nhiều thông tin về các hợp đồng tương tự. Ngoài ra cũng có các nhà tư vấn thẩm định giá - người có thể nhanh chóng đưa ra mức giá tương đối.
Phương pháp thứ 3: Phương pháp thu nhập
Cách này được sử dụng rộng rãi bởi các nhà phân tích tài chính, bằng việc dự đoán dòng tiền tương lai của công ty, chiết khấu tại một tỉ lệ nào đó, để đưa ra giá trị hiện tại bằng tiền. Tỉ lệ chiết khấu đặt ra cho các công ty mới thường từ 30% - 60%. Công ty càng trẻ, càng không chắc chắn về khả năng sinh lời trong tường lai, do đó tỉ lệ chiết khấu càng lớn. (Chú ý: Với những công ty còn quá trẻ, các công ty tiền doanh thu, phương pháp này sẽ không chính xác)
Một tùy biến của phương pháp này là tính thu nhập trước thuế, lãi vay, khấu hao và giá trị hao mòn (EBITDA) và nhân với một hệ số nào đó. Tính bội số EBITDA điển hình cho các công ty giao dịch công khai trong cùng ngành khá dễ dàng: Chỉ cần lấy giá trị vốn hóa của công ty (có thể tìm trên mạng) và chia cho EBITDA.

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2015

Thẩm định giá nhà chung cư

Thẩm định giá nhà chung cư

Thẩm định giá nhà chung cư là việc tổng hợp các yếu tố: vị trí, uy tín chủ đầu tư, hạ tầng sẵn có, pháp lý, tiến độ thi công, chất lượng công trình, vị trí căn hộ, hướng ban công, diện tích, thời điểm mua.
Nhiều nhà chung cư đang được thẩm định giá trên trời khiến  khách hàng không thể phân biệt được chung cư cao cấp giá vài nghìn đô khác với chung cư bình dân nhiều như thế nào. Tình trạng này diễn ra khá phổ biến tạo ra hiện tượng nhiều chung cư gắn mác bình dân mà giá được đẩy lên rất cao.
thẩm định giá
Xét một cách  khách quan tương đối, ngoại trừ những đợt giá chung cư "siêu sốt" thì khách hàng hoàn toàn có thể thẩm định giá một cách tương đối giá nhà chung cư dựa trên việc phân tách các yếu tố:
- Vị trí: một chung cư có vị trí đẹp sẽ làm giá cao lên rất nhiều. Một vị trí đẹp là trong nội thành, trên các mặt phố lớn, hạ tầng xung quanh gần như hoàn hảo... luôn được người ta coi là khu đất vàng. Và đương nhiên, giá trị của nó cũng làm người mua "vàng mắt". Yếu tố vị trí quyết định đến 50% giá thành khi chủ đầu tư bán ra.
- Uy tín chủ đầu tư: Là yếu tố khá quan trọng nhưng lại bị nhiều người bỏ qua. Một chủ đầu tư có kinh nghiệm và bề dày uy tín luôn thẩm định giá bán cao hơn các chủ đầu tư khác dù họ cùng xây dựng trên một khu vực.
- Tiến độ: tiến độ công trình phụ thuộc vào năng lực và vốn của chủ đầu tư. Tốt nhất bạn nên chọn mua chung cư khi tiến độ xây thô đã được khoảng 20 đến 30 % công trình. Những chung cư có tiến độ xây dựng nhanh và ổn định cũng luôn được thẩm định giá giao dịch cao giá hơn thị trường chung.
- Hạ tầng có sẵn: yếu tố vị trí đã quyết định đến hạ tầng phần lớn. Bạn hãy xem xét hạ tầng nội bộ khu chung cư và hạ tầng lân cận, hạ tầng đẹp và đầy đủ, đương nhiên làm giá trị căn hộ cao lên rất nhiều.
- Pháp lý: Yếu tố vô cùng quan trọng, nếu bạn không có khả năng chịu đựng rủi ro, hãy chọn các tòa chung cư đã có hợp đồng mua bán và đã xây thô được trên 20% của các chủ đầu tư uy tín đã và đang vận hành nhiều chung cư có dân cư sinh sống đông đúc. Tất nhiên, nếu bạn đầy đủ tiền mặt, hãy chọn các khu chung cư đã hoàn thiện là tốt nhất.
- Chất lượng công trình: trên hợp đồng mua bán cũng thể hiện khá rõ chất lượng công trình cũng như chủng loại nguyên vật liệu khi thi công và hoàn thiện. Tuy nhiên xem xét các tòa nhà lân cận của cùng chủ đầu tư là cách nhanh nhất để đánh giá chất lượng căn hộ trong tương lai.
- Vị trí các căn hộ từ tầng 8 đến 16 luôn được giao dịch với giá cao hơn tương đối các tầng khác. Ở Việt nam chưa có khái niệm chung cư cao cấp thực sự đúng nghĩa (càng cao tầng, càng đắt). Các tầng cao nhất và thấp nhất thường sẽ có giá rẻ hơn tương đối. Sau các vụ hỏa hoạn và ngành cứu hỏa bất lực với các căn hộ cao hơn tầng 18 thì tâm lý e ngại tầng cao là có thật. Các căn hộ ở góc với hai mặt thoáng tiếp xúc cũng có giá cao hơn.
- Hướng ban công: với chung cư, hướng ban công và cửa sổ là quan trọng nhất. Hầu hết các tòa nhà đều được xây theo trục Tây Bắc - Đông Nam. Những căn hộ có ban công hướng Đông Nam đều có giá cao hơn các căn khác dù cùng tầng.
- Diện tích: những căn hộ có 2 phòng ngủ và có diện tích trong khoảng 60m2 đến 85m2 được ưa chuộng hơn cả và thường giá cũng nhỉnh hơn. Diện tích càng lớn, giá càng giảm nhiều. Những căn đắt nhất thường là diện tích khoảng 70m2, nằm ở vị trí góc có hai mặt thoáng, ban công hướng đông nam, nằm ở các tầng có số đẹp như tầng 8, 9,10, 12, 16, 18.